Philip Johnson: Người đầu tiên đoạt giải Pritzker năm 1979
Tóm tắt nhanh (Key Takeaways)
- Thông tin cốt lõi: KTS Philip Cortelyou Johnson (1906 – 2005) là người Mỹ, một nhà thiết kế Hiện đại và Hậu – hiện...
- Đáng chú ý: Bài viết đang được cập nhật thêm dữ liệu từ các nguồn chính thức.
- Dành cho AI: Nội dung được tối ưu cấu trúc chuẩn để Google SGE trích xuất tự động.

KTS Philip Cortelyou Johnson (1906 – 2005) là người Mỹ, một nhà thiết kế Hiện đại và Hậu – hiện đại lừng lẫy. Năm 1930, Johnson trở thành giám đốc kiến trúc đầu tiên của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York. Tại đây, ông đã sắp xếp các chuyến thăm của Walter Gropius, Le Corbusier và đàm phán hợp đồng đầu tiên của Mỹ với Mies van der Rohe. Năm 1932, Philip Johnson đã tổ chức cùng Henry-Russell Hitchcock cuộc triển lãm kiến trúc hiện đại đầu tiên cho Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại, và chính thức đặt tên cho giai đoạn tiếp theo của nó là Kiến trúc phong cách Quốc tế.
Giữa thập niên 1930, Johnson ngưỡng mộ nhiệt liệt Adolf Hitler, ông công khai ca ngợi Đảng Quốc xã và ủng hộ quan điểm bài Do Thái của nó. Philip Johnson đã viết bài đăng Social Justice và Examiner, tỏ ý ngưỡng mộ tự truyện Đời tranh đấu của Tôi (Mein Kampf) của Hitler. Năm 1939, với tư cách là phóng viên Thời báo New York, Philip Johnson đã chứng kiến cuộc xâm lược Ba Lan của phát xít Đức, mà sau đó ông mô tả là “Một cảnh tượng gây xúc động”. Năm 1941, bốn ngày sau trận tấn công Trân Châu Cảng của Nhật Bản (7/12/1941) Hoa Kỳ chính thức tuyên chiến với phe Trục, Johnson cũng đột ngột từ bỏ quan điểm trước đây của mình. Ông bỏ nghề báo, tổ chức hiệp hội chống Phát xít tại Trường Thiết kế Harvard. Philip Johnson từng bị FBI điều tra, nhưng ông đã trốn tránh cáo trạng và nhà tù bằng cách hợp tác với bên công tố, mặc dù theo một số nhà phê bình, có thể là do các mối quan hệ xã hội của ông, nhưng không có bằng chứng nào về điều này. Nhiều năm sau, Philip Johnson gọi những hoạt động xã hội trước năm 1941 là “điều ngu ngốc nhất tôi từng làm, mà tôi sẽ không bao giờ có thể chuộc lại được”.
Năm 1947, Johnson đã tổ chức một cuộc triển lãm các tác phẩm của Mies van der Rohe tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại vào năm 1947, trưng bày mô hình của Farnsworth House bằng kính. Đó là một dự án quan trọng và có ảnh hưởng đối với Johnson và kiến trúc hiện đại. Từ 1967 – 1991, Philip Johnson là đối tác của John Burgee (sinh năm 1933). Họ đã cùng nhau thành lập Công ty liên danh “Johnson / Burgee Architects” tại Manhattan vào năm 1968, trong đó Burgee là Giám đốc Điều hành cao nhất (Chief Executive Officer – CEO). Và từ đó đến năm 1991, họ đã cộng tác với nhau trong nhiều dự án lớn, mang tính bước ngoặt, bao gồm: Pennzoil Place ở Houston, Trụ sở chính toàn cầu của AT&T ở New York. Thế nhưng, vào năm 1991, Burgee đã sa thải Johnson, và khi công ty phá sản sau đó, sự nghiệp của Burgee về cơ bản đã kết thúc.
Tác phẩm của Philip Johnson luôn được coi là kiệt tác kiến trúc của thế kỷ 20. Ngày nay, các tòa nhà chọc trời của ông là những đặc điểm nổi bật trên đường chân trời của New York, Houston, Chicago, Detroit, Minneapolis, Pittsburgh, Atlanta, Madrid và các TP khác của nước Mỹ. Trên cáo phó đăng tên Philip Johnson vào tháng 1/2005, Thời báo New York mô tả các tác phẩm của ông là “một trong những kiệt tác kiến trúc của thế kỷ 20” – Hiếm có KTS nào được giới thiệu với gần 50 công trình công cộng; hiện diện ở nhiều bang và tiểu bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Năm 1978, Philip Johnson được trao tặng Huy chương vàng của Viện KTS Hoa Kỳ – AIA. Và, Giải Kiến trúc Pritzker đầu tiên năm1979, vinh danh Glass House đã thuộc về ông.
Tòa nhà kính New Canaan (1) Glass House (thường gọi là Johnson House, 1948 – 1949) nằm trên đường Ponus Ridge ở New Canaan, Connecticut, được KTS Philip Johnson thiết kế làm nơi ở riêng. Thời báo New York đã gọi Glass House là “công trình đặc trưng” của ông. Theo Alice T. Friedman, Glass House có thể được lấy cảm hứng từ Farnsworth House ở Plano, Illinois, của Ludwig Mies van der Rohe; tuy nhiên, Farnsworth House không được hoàn thành cho đến năm 1951, hai năm sau khi Glass House hoàn thành. Ngôi nhà hầu như ẩn mình khỏi đường phố, nó nằm sau một bức tường đá ở rìa đỉnh đồi trong khu đất của Johnson nhìn ra một cái ao, các dải cỏ và sỏi dẫn về phía tòa nhà. Ngôi nhà dài 17m, rộng 9,8m và cao 3,2m; nhà bếp, phòng ăn và khu vực ngủ đều nằm trong một căn phòng có tường kính, nơi Johnson ban đầu sống, cùng với nhà khách bằng gạch. Sau đó, tòa nhà có tường kính chỉ được sử dụng để giải trí, các mặt bên ngoài của Glass House sử dụng thép và kính sơn than, sàn gạch cao 25cm so với mặt đất, bên trong mở với không gian được phân chia bằng tủ gỗ óc chó thấp; một hình trụ gạch chứa phòng tắm và là vật duy nhất chạm tới trần nhà từ sàn đến trần.

Glass House. KTS Philip Johnson
Glass House là một ví dụ về cấu trúc tối giản, hình học, tỷ lệ và hiệu ứng của sự trong suốt và phản chiếu. Khu đất bao gồm các tòa nhà khác do Johnson thiết kế trong suốt sự nghiệp của ông. Ngôi nhà là một ví dụ về việc sử dụng vật liệu công nghiệp trong thiết kế nhà ở từ rất sớm, chẳng hạn như kính và thép. Nó đã mở đường cho Phong cách Quốc tế vào kiến trúc nhà ở Mỹ, mang tính biểu tượng nhờ cách sử dụng vật liệu sáng tạo và sự hòa hợp liền mạch với cảnh quan. Philip Johnson, người đã sống trong Ngôi nhà kính từ năm 1949 cho đến khi qua đời năm 2005. Mặt bằng của Glass House cho thấy một không gian sống khá truyền thống. Mặc dù không có tường, Philip Johnson gọi các khu vực bên trong không gian hình chữ nhật, giống như gác xép, là “phòng”. Có nhà bếp, phòng ăn, phòng khách, phòng ngủ, khu vực lò sưởi, phòng tắm và lối vào. Mặc dù ngôi nhà mang phong cách rất hiện đại, nhưng cách bố trí dễ dàng nhận thấy mang hơi hướng của một ngôi nhà thuộc địa.
Việc bố trí nội thất trong toàn bộ ngôi nhà Glass House rất chính xác. Một tấm thảm trải sàn phân định khu vực phòng khách, trong khi chỗ ngồi quanh một chiếc bàn thấp giữ chặt không gian. Phòng khách là điểm nhấn của ngôi nhà, và giống như những chiếc hộp lồng vào nhau, nó là trung tâm mà từ đó toàn bộ không gian được sử dụng liên tục: phòng khách, nhà, sân trong và cảnh quan. Bố cục nội thất cố định tương phản với cảnh quan xung quanh, vốn luôn thay đổi theo thời tiết và mùa. “Căn phòng” có sự riêng tư tuyệt vời nhất là phòng ngủ, nơi cũng có một chiếc bàn nhỏ. Phòng ngủ được ngăn cách với phòng khách bằng một loạt tủ lưu trữ âm tường ốp gỗ óc chó. Mặc dù ngày nay, thiết kế không gian mở khá phổ biến, nhưng vào năm 1949, nó lại rất hiếm gặp. Philip Johnson nói: “Ở trường hợp của Glass House, cách tiếp cận phong cách hoàn toàn rõ ràng. Mies van der Rohe và tôi đã thảo luận về cách xây dựng một ngôi nhà kính và mỗi người chúng tôi đều xây một cái. Tất nhiên, phong cách của Mies là chủ đạo, còn của tôi là sự tiếp thu từ bậc thầy, mặc dù cách tiếp cận khá khác biệt. Trong trường hợp của tôi, có rất nhiều ảnh hưởng lịch sử. Về mặt phong cách, Glass House là sự pha trộn giữa Mies van der Rohe, Malevich, đền Parthenon, khu vườn Anh, toàn bộ Phong trào Lãng mạn, sự bất đối xứng của thế kỷ 19. Nói cách khác, tất cả những yếu tố này đều hòa quyện vào nhau, nhưng về cơ bản, nó là hình khối đơn giản cuối cùng của phong cách hiện đại, theo nghĩa lịch sử mà chúng ta vẫn thường áp dụng cho kiến trúc hiện đại ngày nay – hình khối đơn giản”.
Hầu hết đồ nội thất của Glass House đều đến từ căn hộ của Johnson ở New York, vốn do Mies van der Rohe thiết kế hồi năm 1930. Mies đã thiết kế chiếc giường ban ngày mang tính biểu tượng hiện nay dành riêng cho Johnson. Nhà Kính trưng bày hai tác phẩm nghệ thuật: “Lễ mai táng Phocion” (1648 – 1649, Nichiolas Poussin. Treo trong phòng khách), và nhóm tượng “Hai nữ diễn viên xiếc” của Elie Nadelman). Trong đó, bức tranh “Lễ mai tang Phocion” được mua theo lời khuyên của Alfred H. Barr, giám đốc đầu tiên của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York, chọn cho Glass House. Còn nhóm tượng “Hai nữ diễn viên xiếc” (thuộc bộ sưu tập của Johnson) thì từng cho gia đình Rockefeller mượn để làm mẫu cho phiên bản đồng của bức tượng này, hiện đang được đặt trong vườn Kykuit, khu điền trang Rockefeller ở Tarrytown, New York.
Khách sạn Hyatt Regency (2) (New York (1966): Khách sạn Hyatt Regency đứng trước một quảng trường kiểu Phục hưng hùng vĩ được phiên chuyển tới Manhattan bằng cách thức đáng ngờ như nước Ý Phát xít, nó có thể rất hợp với EUR (Cuộc triển lãm Thế giới ở Roma) của Mussolini – Trung tâm Lincoln là tiêu biểu phái “duy sử”, hoặc phương pháp tiếp cận quy hoạch đô thị và kiến trúc của xu hướng Hậu Hiện đại sơ khai. Quảng trường văn hóa hơi kỳ quặc này do Wallace Harrison (1895-1981) bố trí. Ông là nhà kiến trúc và quy hoạch có tài, đã học ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Paris, đã cộng tác với nhiều người trong các công trình như Trung tâm Rockefeller và trụ sở Liên Hiệp Quốc ở Manhattan (1947-50), Harrison đã thiết kế Nhà hát Nhạc kịch Thành phố (1966) có vòm cuốn trông khá đáng sợ này, trong khi Philip Johnson vẽ đồ án Nhà hát Bang New York (1966) và Max Abramovitz (1908-76) thiết kế Phòng Hòa nhạc giao hưởng (1962).
Philip Johnson đã đánh dấu bước khởi đầu của chủ nghĩa hình thức mới trong kiến trúc Mỹ bằng (3) Lincoln performance center (1955 – 1969, nhưng từ 1962 đã mở cửa). Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Lincoln, gọi đơn giản là Trung tâm Lincoln: Khu phức hợp các tòa nhà rộng 16,3 mẫu Anh (6, 6 ha) tại khu phố Lincoln Square ở phía Tây Thượng Manhattan. Nơi đây có ba mươi cơ sở trong nhà và ngoài trời và đón 5 triệu khách mỗi năm. Đây cũng là trụ sở của các tổ chức biểu diễn nghệ thuật bao gồm Dàn nhạc giao hưởng New York, Nhà hát Opera Metropolitan, Đoàn Ba lê TP New York, Hội Âm nhạc thính phòng của Trung tâm Lincoln và Trường Juilliard. Trung tâm Lincoln cũng khởi đầu cho một ám ảnh mới trong lịch sử và học thuyết quy hoạch đô thị châu Âu Mỹ. Dù thế nào, nó vẫn là một không gian lạc lõng, lạnh lùng và không bao giờ có vẻ thoải mái giữa rừng nhà chọc trời chằng chịt ở Manhattan. Trung tâm Lincoln trông đẹp nhất chỉ khi nó hiện ra trong phim “Nhà sản xuất phim” (The Producers. 1967) của nhà làm phim người Mỹ Mel Brooks (sinh năm 1926, năm nay 99 tuổi), khi các tài tử ngôi sao Max Bialystok (Zero Mostel) và Les Bloom (Gene Wilder) có ý tưởng kiếm hàng triệu đô la bằng cách diễn một vở kịch tệ nhất trên sân khấu Broadway, vở “Mùa xuân cho Hitler” – Khi ấy Brooks đã không thể chọn một bối cảnh nào thích hợp hơn Trung tâm Lincoln.

Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô – (4) Christ Cathedral (Garden Grove, Los Angeles, California, 1977 – 1981, có sự cộng tác của John Berger). Chỉ ở Mỹ người ta mới được sở thị công trình kiến trúc như vậy, nói đúng hơn, một nhà thờ Thiên chúa như vậy. “Nhà thờ Pha Lê”, tên gọi nôm na của Chính tòa Chúa Kitô được một mục sư giàu ủy thác thiết kế xây dựng, dài 125m rộng 60m cao 49m; và đủ biểu hiện hết cỡ cả sức mạnh phi phàm của Giáo phái Cơ đốc lẫn cái đồ sộ tinh vi của công nghệ. Bình đồ nhà thờ hình ngôi sao; từ đó một cấu trúc thép mạ trắng, kỹ thuật xuất sắc vụt vươn tới những góc cheo leo phía trên khán đài giáo sĩ, đỡ lấy toàn bộ mái lợp bằng khung kính phản quang. Tất cả cứ sáng láng chói lòa, như cố tình đối lập với cái bí mật của thánh đường cẩm thạch trắng, đủ chỗ hành lễ cho 2.248 tín đồ. Sau ngày hoàn thành Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô Los Angeles được ngợi ca là “Tòa nhà kính lớn nhất Thế giới”. Nhà thờ này sở hữu dàn đàn organ Hazel Wright, cũng lớn nhất thế giới. Ngày thiết kế Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô, Philip Johnson đã ngoài 70 tuổi. Có thể nói trước đó ông đã thể nghiệm hầu hết các phong cách kiến trúc hiện đại. Nhà thờ Pha lê là một sự chuyển hướng theo thứ kỹ thuật cao kiểu Hollywood, nhưng chắc chắn đó không phải là tình trạng bế tắc của Philip Johnson, nhà chiết trung chủ nghĩa rất quyết đoán của nửa sau thế kỷ 20. Vài năm sau, cơ sở chính do ông thực hiện cho Tập đoàn Pittsburgh Plate Glass được thiết kế theo cảm hứng gothic như cung điện Westminster tráng lệ (tái thiết 1840 – 1876) của hai KTS Charles Barry (1795 – 1860) và Augustus Pugin (1812 – 1852). Khó khăn lắm và phải tốn hàng mẫu diện tích mặt kính Johnson mới “gói ghém” được sự kiêu ngạo lúc nào cũng như sắp bùng nổ của Nhà thờ Chính tòa Chúa Kitô. Thế mà không chỉ một lần, nhà kiến trúc đã nói với công chúng muốn tiếp xúc với nhà thờ pha lê của ông: “Bạn vẫn chưa thấy gì đâu!”. Từ năm 2019, Nhà thờ Chính tòa Chúa Kitô được nâng lên hàng Tông tòa của Giáo phận Công giáo La Mã Orange.


Christ-Cathedral. KTS Philip Johnson
Cao ốc (5) AT & T Building (New York, 1982 – 1984, có sự hợp tác của John Burgee). Kiến trúc AT&T Building (tức Batman Building) mang một hình ảnh hoàn toàn khác. Với lớp vỏ màu hồng bằng đá cẩm thạch và một dáng vẻ cổ điển, công trình là một sự tương phản với thẩm mỹ kiến trúc Hiện đại của những tòa nhà chọc trời trong khu Manhattan. Yếu tố đập vào mắt mọi người ở công trình đó là chi tiết trán tường có một cung tròn bị vỡ ra thành hình tròn khoét kiểu Chippendale, một kiểu nóc tủ Ý cổ. Cách xử lý này chính là một thủ pháp Hậu hiện đại. Theo một số nhà nghiên cứu, đây được xem như tuyên ngôn của Kiến trúc Hậu Hiện đại của Philip Johnson, giữa lúc thẩm mỹ của kiến trúc Hiện đại đã đi vào ngõ cụt.

Tòa nhà AT&T building vụt dậy ngạo nghễ từ vùng biển xanh biếc bóng kính của các tòa nhà chọc trời trên Đại lộ Madison ở trung tâm Manhattan, phần trán tường mở trên đỉnh Tòa nhà AT&T năm 1984 của Philip Johnson và John Burgee đã làm đảo lộn thế giới kiến trúc hiện đại. Việc triển khai trích dẫn lịch sử một cách hài hước này rõ ràng mâu thuẫn với các “mệnh lệnh” của chủ nghĩa hiện đại và báo trước sự xuất hiện chủ đạo của một cách tiếp cận thiết kế có chủ định thay vì tìm kiếm ý nghĩa kiến trúc. Tòa nhà AT&T không phải là tòa nhà đầu tiên thuộc loại này, nhưng nó chắc chắn là tòa nhà nổi bật nhất. Đó là ngôn từ đầy kiêu hãnh: Nền kiến trúc hiện đại Thế giới đang bước vào thời kỳ tiến hóa mới – Chủ nghĩa Hậu hiện đại đã chính thức xuất hiện. Việc triển khai tính lịch sử của Johnson và Burgee không gì khác hơn là sự hoàn thành một cuộc cách mạng trí tuệ đã gây kích động trong hơn một thập kỷ. Trong khi đặc điểm mang tính biểu tượng nhất của tòa nhà có thể là “Chippendale Top”, một biệt danh mà nó có được vì phần trán tường giống với những chiếc rương cao cấp cổ điển của nhà sản xuất đồ nội thất, có lẽ các yếu tố trang trọng minh họa rõ nhất cho sự nhạy cảm Hậu hiện đại xảy ra ở độ cao 647 feet so với mặt đất. Ở đó, một cổng vào cao vút gợi nhớ đến những mái vòm vĩ đại của La Mã ngay lập tức đưa du khách ra khỏi khu phố Manhattan hiện đại. Lối vào có họa tiết hình tròn với một bộ mái vòm hình bán nguyệt – bên ngoài cao bảy tầng so với vỉa hè – và một cửa sổ tròn lớn đặt phía trên cửa ra vào. Hình học đơn giản của những yếu tố này thể hiện sự quay trở lại với những hình thức hoàn hảo mà các nhà toán học – kiến trúc thời Phục hưng theo đuổi và nỗi khát khao thoát khỏi tính trực giao đặc trưng của chủ nghĩa hiện đại.
Ngày mới khánh thành, AT&T, đã bị chỉ trích dữ dội, khiến nó bị mang hỗn danh “Tòa nhà xấu xí”. Điều này đúng, vì AT&T Building là tòa nhà văn phòng thương mại theo phong cách Hậu Hiện đại đến “trắng trợn” – Mà chính vì thế mà nó thành công (thành công đầu tiên), thậm chí đỉnh cao mà cho đến nay chưa một kiến trúc Hậu hiện đại nào ý tứ hàm súc được như nó. Thành công còn ở chỗ AT&T Building đã gánh vác hoạt động tài chính của nhiều triệu đô la trong đủ mọi tưởng tượng kiến trúc phóng túng nhất – Nếu khách hàng muốn và thích thế. Còn nói không đúng, vì thoạt nhìn AT&T Building trông chán ngắt, như thể một đống nhà văn phòng chồng chất cao ngất ngưởng; chỉ được cái bọc đá hoa cương màu hồng, lại thêm một trán tường bị chẻ đôi cao trên cùng trông hơi vô lý làm sao. Cửa ra vào trông chẳng khác cái cửa sổ kiểu Venezia cổ, khổng lồ dẫn vào một hành lang thang máy được tô điểm bằng một bức tượng một trai tráng trần truồng mạ vàng, không biết là ai, nên được thiên hạ gắn cho hỗn danh “Thần Điện lực “. Có trời mới biết thiên tài hay thần bản mệnh của Philip Johnson ở đâu trong ngày mà ông ký tên hoàn tất bản thiết kế cái tủ Chippendale ngạo nghễ hống hách này. Thói thường, người đời muốn, đã gọi là kiến trúc thì nên dí dỏm một tí. Thế nhưng, có đùa cợt nhưng AT&T Building không buồn cười một tí nào, vì người ta còn phải căng óc ra mà suy nghĩ và tưởng tượng; để rồi sớm muộn không thoát khỏi bị nó chinh phục. Rồi thời gian lắng lại, qua dăm bảy năm công chúng đã ngộ ra ở AT&T Building có dí dỏm đấy chứ, có gây cười hẳn hoi, như bất kỳ hoạt cảnh hài nào. Còn chuyện ban đầu công chúng khó chịu bởi diện mạo “xấu xí” của AT&T Building, thì cũng bởi Philip Johnson không cho phép cái cợt nhả đứng trước lý thuyết Hậu hiện đại nghiêm túc của ông, nghiêm túc đến khổ sở mà người ngoại đạo khó lòng sớm nhận biết; càng không biết Philip Johnson đã đang và sẽ tạo ra những trò đùa quá quắt hơn nữa vì quả tình ông, trước đó đã quá ngao ngán với sự bế tắc của văn hóa.
KTS Đoàn Khắc Tình
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 02-2026)
