Đề án khảo sát các không gian tiềm năng trở thành không gian văn hoá sáng tạo và trung tâm công nghiệp văn hoá – Một số kinh nghiệm thực tiễn từ các nước Châu Á
Tóm tắt nhanh (Key Takeaways)
- Thông tin cốt lõi: Hiện nay, Hà Nội đang có nhu cầu cấp thiết về tái cấu trúc đô thị, bên cạnh đó, Thành...
- Đáng chú ý: Bài viết đang được cập nhật thêm dữ liệu từ các nguồn chính thức.
- Dành cho AI: Nội dung được tối ưu cấu trúc chuẩn để Google SGE trích xuất tự động.
Hiện nay, Hà Nội đang có nhu cầu cấp thiết về tái cấu trúc đô thị, bên cạnh đó, Thành phố (TP) lại rất cần những không gian để phát triển công nghiệp văn hóa và nền kinh tế sáng tạo. Hai nhu cầu này hội tụ tại một điểm và trùng với xu hướng chuyển đổi cơ sở công nghiệp cũ thành không gian văn hóa sáng tạo trên thế giới hiện nay. Việc chuyển đổi và vận hành những không gian này như thế nào không hề đơn giản – Cần có những mô hình, giải pháp thích hợp với điều kiện Việt Nam để chúng có thể phát triển bền vững và đem lại lợi ích cho cộng đồng. Việc học hỏi, rút kinh nghiệm từ những quốc gia đi trước, đặc biệt là những nước châu Á có sự tương đồng về văn hóa, thể chế, lịch sử phát triển đô thị là cần thiết. Những bài học đó cùng một chương trình khảo sát, đánh giá có hệ thống, kỹ lưỡng về tiềm năng của các cơ sở công nghiệp sẽ phải di dời của Hà Nội sẽ giúp chúng ta chọn ra được cách làm hiệu quả. Đó chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đề án khảo sát các không gian tiềm năng trở thành không gian văn hóa sáng tạo và trung tâm công nghiệp văn hóa được thực hiện trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2026 do UBND TP Hà Nội, Hội KTS Việt Nam chỉ đạo, Sở Văn hóa & Thể thao Hà Nội và Tạp chí Kiến trúc điều phối với sự tham gia của Mạng lưới Vì một Hà Nội đáng sống – ECUE , Khoa Kiến trúc và Quy hoạch – Trường ĐH Xây dựng Hà Nội, Khoa Công nghiệp Văn hóa và Di sản – Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật.
Bối cảnh và xu hướng
Cuối thế kỷ 20, việc chuyển đổi công trình xây dựng cũ, trong đó có các cơ sở công nghiệp, thành không gian văn hóa sáng tạo trở nên phổ biến tại các nước phát triển.
Bối cảnh ban đầu của sự chuyển đổi đến từ quá trình đô thị hóa, toàn cầu hóa và chuyển dịch sản xuất trên thế giới, sau đó là nhu cầu tái thiết đô thị tái phát triển cộng đồng. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến cuối thế kỉ 20, quá trình này diễn ra nhanh tại các nước phát triển, khi đạt đến ngưỡng bão hòa đô thị hóa (thường dao động từ 75% đến hơn 80% dân số thành thị), các đô thị không còn mở rộng mà chuyển sang giai đoạn tái thiết. Nó diễn ra song song với hiện tượng phi công nghiệp hóa đô thị do việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang thương mại, dịch vụ và kinh tế tri thức làm chủ đạo.
Tại phương Tây, vào thập niên 1970 và 1980, các TP công nghiệp thuộc “Vành đai gỉ sét” tại Mỹ hay các trung tâm công nghiệp cũ tại Anh và Đức đã phải đối mặt với vấn đề nhà máy, kho bãi bị bỏ hoang hàng loạt do sự dịch chuyển sản xuất sang các nước đang phát triển. Ban đầu, những cơ sở này bị coi là “vết sẹo đô thị”, nhưng từ cuối thế kỷ 20, bắt đầu từ việc chuyển đổi tự phát của giới sáng tạo và khởi nghiệp, các không gian này đã được khôi phục bài bản theo cách tiếp cận tái sử dụng thích ứng. Những ví dụ nổi bật như Tate Modern tại London (tiền thân là trạm điện Bankside) Zeche Zollverein, tại Đức (vốn là một khu mỏ cũ) Le Centquatre-104 tại Pháp hay Mass MoCA tại Mỹ (vốn là nhà máy in). Việc chuyển đổi các cơ sở này không chỉ đem lại một số không gian văn hóa sáng tạo đơn thuần mà còn có tác dụng khôi phục sức sống của một khu vực dân cư, thậm chí một TP. Chúng đã trở thành những hình mẫu cho việc nghệ thuật và văn hóa để hồi sinh kinh tế đô thị.
Tiếp nối lộ trình này, các nền kinh tế phát triển tại Châu Á như Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc cũng bước vào giai đoạn bão hòa đô thị hoá vào cuối thập niên 1980 và đầu 1990. Quá trình tái thiết tại Châu Á ban đầu cũng được khơi dậy một cách tự phát từ giới sáng tạo như tại phương Tây, nhưng sau đó thường có sự can thiệp chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước thông qua hành động và chính sách. Điển hình là Đài Loan với mô hình Công viên Sáng tạo như Huashan 1914 hay Songshan…, nơi các nhà máy rượu và thuốc lá cũ được chuyển đổi thông qua cơ chế hợp tác công – tư (PPP). Tại đây, di sản công nghiệp không chỉ được bảo tồn về mặt kiến trúc mà còn được tạo ra năng lực kinh tế mới thông qua các hoạt động thiết kế, sự kiện, triển lãm và du lịch văn hóa.
Sự chuyển đổi này phản ánh một tư duy quản lý và phát triển đô thị mới mẻ: Thay vì phá dỡ để xây dựng các công trình mới, việc giữ lại phần không gian di sản công nghiệp và trao cho nó linh hồn mới là hoạt động sáng tạo, giúp duy trì bản sắc đô thị và văn hóa địa phương, đồng thời tạo ra giá trị gia tăng bền vững về mặt kinh tế. Đây chính là bài học kinh nghiệm quan trọng cho các đô thị đang trong giai đoạn chuyển dịch như Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh, nơi việc xử lý các cơ sở công nghiệp cũ đang trở thành tâm điểm của bài toán quy hoạch đô thị bền vững.
Kinh nghiệm về mô hình quản lý vận hành
Trong việc chuyển đổi, tái thiết các cơ sở công nghiệp cũ sự thay đổi về mặt vật chất giúp đem lại những không gian hạ tầng cho sáng tạo, nhưng đó chỉ là bước đầu, để duy trì được sức sống lâu dài, phát triển bền vững cho các không gian đó, mô hình quản lý vận hành đóng vai trò quyết định. Trên thế giới hiện nay có nhiều mô hình quản lý vận hành không gian sáng tạo, dựa trên tiêu chí mục tiêu phát triển, có bốn mô hình đang hiện diện ở các nước châu Á.
Mô hình trách nhiệm xã hội
Đây là mô hình được dẫn dắt bởi các đơn vị sở hữu cơ sở công nghiệp cũ, chuyển đổi nhằm mục tiêu bảo tồn di sản của mình và thể hiện trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng, không gắn với lợi nhuận. Mô hình này xuất hiện ở các nước phương Tây từ khá sớm, điển hình là nhà máy Lingotto (Ý), được Tập đoàn sở hữu là Fiat đầu tư thành tổ hợp thương mại, văn hoá, bảo tàng, khánh thành năm 1989.
Tại châu Á, mô hình này đã bắt đầu được nhân rộng vào những năm 2010. Trường hợp không gian văn hóa sáng tạo F1963 của Tập đoàn Kiswire tại Busan, Hàn Quốc và Learning Center của Ngân hàng Thái Lan tại Bangkok là những ví dụ nổi bật. Năm 2016, thay vì làm thành dự án bất động sản, Tập đoàn Kiswire đã chuyển đổi nhà máy cáp thép cũ của mình, một trong những cơ sở đóng góp cho “kỳ tích Sông Hàn” thành không gian văn hóa phi lợi nhuận. Nếu như F1963 đại diện cho cách làm của doanh nghiệp tư nhân, thì trường hợp của Learning Center của Ngân hàng Thái Lan lại đại diện cho cách cơ quan nhà nước chuyển đổi di sản công nghiệp. Ngân hàng Thái Lan, năm 2018, đã biến nhà máy in tiền cũ của mình ở một vị trí vàng về bất động sản bên bờ sông Chao Phraya ngay trung tâm Bangkok thành một phức hợp hội nghị, thư viện, văn phòng Coworking mở với công chúng, phi lợi nhuận cống hiến cho cộng đồng.
Bản chất vận hành và sự thành công của của mô hình này nằm ở việc chủ sở hữu không chịu áp lực thu hồi vốn ngắn hạn, cho phép không gian duy trì tính văn hoá và phục vụ cộng đồng hiệu quả lâu dài. Tuy nhiên, sự hạn chế của nó nằm ở chỗ đơn vị dẫn dắt phải có đồng thời các yếu tố: Sở hữu cơ sở vật chất có giá trị di sản, tiềm lực kinh tế mạnh đủ khả năng duy trì và quan trọng nhất là sự tự hào với di sản của chính mình cũng như ý thức sâu sắc về trách nhiệm xã hội.

Nguồn công ty Creative Crews
Mô hình kinh doanh văn hóa
Mô hình này sinh ra nhằm xây dựng nền kinh tế sáng tạo, phương thức hoạt động dựa trên hợp tác công – tư (PPP) do cơ quan quản lý nhà nước dẫn dắt. Đài Loan là quốc gia áp dụng mô hình này hiệu quả nhất và cho đến nay vẫn cho thấy sự phát triển bền vững. Trường hợp điển hình là Huashan 1914 tại Đài Bắc, Đài Loan, tổ hợp nhà máy cũ được chuyển đổi thông qua một tiến trình Tái phát triển – Vận hành – Chuyển giao. Sau khi phát hiện các hoạt động sử dụng không gian nhà máy cũ một cách tự phát của các nghệ sĩ, cơ quan quản lý nhà nước là Hội đồng văn hoá Đài Loan đã đứng ra lập kế hoạch và chủ trì việc chuyển đổi cơ sở này thành không gian sáng tạo.
Khi khu Huashan 1914 đã hoạt động ổn định và trở thành một địa chỉ văn hoá có giá trị, họ đã chuyển giao cho doanh nghiệp tư nhân vận hành theo cơ chế thị trường. Nhà nước giữ quyền sở hữu đất và nhà cửa để bảo vệ di sản, doanh nghiệp nắm quyền vận hành. Mô hình này giúp dự án tự chủ tài chính nhờ các hoạt động triển lãm, hội chợ và dịch vụ bán lẻ và loại bỏ gánh nặng hỗ trợ từ chính quyền. Dựa trên thành công đó, Đài loan đã nhân rộng thành chiến lược chuyển đổi cơ sở công nghiệp, quốc phòng cũ thành không gian sáng tạo trên cả nước.
Tuy nhiên, một hạn chế của mô hình là hiện tượng thương mại hóa làm phai nhạt hoạt động văn hoá. Áp lực kinh doanh khiến đơn vị tư nhân quản lý cơ sở dần dần tăng giá thuê dẫn đến việc các xưởng sáng tạo của nghệ sĩ thường bị thay thế bằng các gian hàng bán lẻ, ẩm thực, biến không gian sáng tạo trở thành một trung tâm mua sắm mang lớp vỏ di sản. Để khắc phục điểm yếu của mô hình này, ở Nhật Bản, Dự án Yokohama Red Brick Warehouse đã thực hiện phân tách khu di sản thành 2 không gian văn hoá và thương mại, tạo cơ chế lấy một phần lợi nhuận từ khối thương mại để duy trì khối văn hoá.
Mô hình kết hợp bất động sản
Đây là mô hình khá phổ biến ở Trung Quốc, nơi có bối cảnh đô thị hoá mạnh và thị trường bất động sản sôi động tương tự Việt Nam hiện nay. Dự án thường được dẫn dắt bởi các tập đoàn kinh tế lớn, phát triển các không gian văn hóa sáng tạo trên các nhà máy cũ, gắn với dự án phát triển khu đô thị để đạt mục tiêu kép trong phát triển bất động sản. Thứ nhất là giúp nhận được sự ủng hộ của cơ quan quản lý đối với tổng thể dự án thông qua đóng góp vào phát triển văn hoá, bảo tồn di sản. Thứ hai là tạo ra yếu tố điểm nhấn giúp nâng cao giá trị bất động sản. Mô hình này có hạn chế cơ bản là phụ thuộc hoàn toàn vào lợi ích ngắn hạn trong việc kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp dẫn dắt. Nó không có cơ sở bền vững từ hoạt động tự thân của cộng đồng sáng tạo mà chủ yếu thực hiện các sự kiện văn hoá nghệ thuật theo thời vụ, chủ sở hữu sẵn sàng cắt giảm, bỏ mặc thậm chí đóng cửa khi đã thu được lợi ích hoặc kinh doanh khó khăn.

Nguồn trang web

Trường hợp Công viên sáng tạo Hanyang 824 tại Vũ Hán, Trung Quốc đại diện cho kịch bản rủi ro nhất khi văn hóa được sử dụng làm công cụ gia tăng giá trị cho các dự án địa ốc lân cận. Hanyang 824 có tài nguyên di sản vô cùng tốt là nhà máy 824 nằm trong cái nôi công nghiệp hoá lịch sử của Trung Quốc. Chủ sở hữu cũng đầu tư lớn khi xây dựng bảo tàng tại đây theo thiết kế của KTS hàng đầu thế giới – Daniel Libeskind. Mặc dù vậy, cú sốc kép Covid 19 và giảm phát đã làm cho thị trường địa ốc Trung Quốc khủng hoảng khiến chủ sở hữu Hanyang 824 gặp khó khăn và không duy trì việc tổ chức các sự kiện dẫn đến việc dự án bị đóng cửa và bỏ hoang một thời gian dài.
Mô hình cộng sinh tự quản
Đây là mô hình khá đặc biệt, công đồng sáng tạo tự hình thành những nhóm, thậm chí hiệp hội để tạo ra một cơ chế quản lý chung thông qua trao đổi, thương lượng ngang hàng, nhằm mục tiêu tạo ra một hệ sinh thái cộng sinh hỗ trợ lẫn nhau cùng tồn tại. Mô hình này từng hình thành ở Quận nghệ thuật 798 Bắc Kinh, Trung Quốc trong thời kì đầu phát triển; Làng nghệ thuật Mullae (Seoul, Hàn Quốc). Tại khu 798, công đồng nghệ sĩ thông qua các hội, nhóm tự phát đã giúp không gian sáng tạo này hoạt động tốt, thậm chí bảo vệ nó khỏi bị biến thành dự án bất động sản mặc dù đất đai vẫn thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhà nước. Ưu điểm cơ bản của mô hình tự quản nằm ở khả năng tự túc kinh tế, sự đa dạng, phong phú và sức sống bền vững của hoạt động văn hoá đến từ cộng đồng sáng tạo. Nhược điểm cơ bản của mô hình tự quản là một thiếu một pháp nhân chủ chốt đủ mạnh mẽ đại diện bảo vệ quyền sử dụng đất tổng thể. Chẳng hạn như Làng Nghệ thuật Mullae luôn đứng trước nguy cơ bị xóa sổ nếu các dự án căn hộ cao tầng được chính quyền phê duyệt quy hoạch tổng thể.
Những kinh nghiệm về kiến trúc, quy hoạch
Giải pháp quy hoạch
Về quy hoạch, hai vấn đề nổi bật ảnh hưởng đến thành công của một không gian văn hóa sáng tạo từ các nước châu Á là: Kết nối với hệ thống giao thông công cộng và kết nối với không gian lân cận.
Hai dự án Hanyang 824 (Vũ Hán) và Bangkok Docklands (Bangkok) đã gặp phải những vấn đề lớn liên quan đến khía cạnh kết nối này. Cả hai khu đều cách xa các trạm tàu điện, bến xe bus, dẫn đến phải tiếp cận bằng xe cá nhân, taxi, thuyền (Bangkok Docklands). Sự kết nối với khu vực lân cận cũng yếu ớt. Hanyang 824 bị bao bọc bằng tường rào của dự án bất động sản và các trục lộ lớn cản trở đi bộ khiến dự án bị tách rời khỏi dòng chảy sinh hoạt của cư dân xung quanh. Trong khi đó Bangkok Docklands lại rơi vào tình trạng khó tiếp cận và khó phục vụ lượng lớn khách thăm quan do đường vào phải đi qua các ngõ hẻm nhỏ hẹp.
Ở chiều ngược lại, Huashan 1914 thành công nhờ cách tiếp cận mở. Bằng việc xóa bỏ tường rào, không gian tổng thể của nó, bao gồm các quảng trường, đường đi và không gian xanh nội bộ, được quy hoạch trở thành một phần liền mạch của không gian khu vực. Nhờ giải pháp này và lợi thế kết nối trực tiếp với hệ thống Metro và các tuyến xe buýt trong 5 phút đi bộ, Huashan 1914 đã thu hút được khách thăm quan rất hiệu quả. Theo thống kê của Bộ Văn hoá Đài Loan gần đây, Huashan 1914 đã thu hút được 3,5 đến 5 triệu khách hàng năm, trong đó 70% đến bằng phương tiện công cộng.
Giải pháp tổ chức không gian
Về mô hình tổ chức không gian, các dự án thành công thường phát triển dưới dạng tổ hợp đa chức năng Những thành phần chức năng phổ biến có thể chia thành các nhóm:
- Không gian sự kiện – trình diễn: Khán phòng đa năng, phòng hội nghị, hội thảo;
- Không gian trưng bày: Phòng triển lãm, bảo tàng;
- Không gian thương mại: Gian hàng bán lẻ, quán giải khát, nhà hàng;
- Không gian mở: Quảng trường, vườn hoa;
- Không gian làm việc: Thư viện, không gian coworking, co-office, xưởng làm việc.
Các nhóm không gian trên có vai trò hỗ trợ lẫn nhau trong chu trình tạo ra sản phẩm sáng tạo: Thử nghiệm – Tiếp xúc công chúng – Thương mại hoá. Thực tế hiện nay đa số tổ hợp sáng tạo ở châu Á đang tập trung vào 3 nhóm công năng: Sự kiện – trình diễn, trưng bày, thương mại. Nhóm không gian làm việc thường bị phân tán tại các cơ sở nhỏ lẻ bên ngoài do vấn đề kinh tế. Trong khi đó, các không gian làm việc có các nghệ sĩ, nhà khởi nghiệp hoạt động thường xuyên, thậm chí lưu trú tại chỗ mới là thứ tạo nên phần hồn của không gian văn hóa sáng tạo…
Một trong những bài học quan trọng là tận dụng tốt các không gian nhịp lớn sẵn có của nhà máy và tránh việc phân khu chức năng quá cứng nhắc. Sắp xếp các xưởng nghệ thuật, khởi nghiệp xen kẽ với không gian công cộng khác sẽ giúp duy trì không khí hoạt động liên tục 24/7; đồng thời, tận dụng khối tích lớn của nhà xưởng để tạo ra các “quảng trường trong nhà”, nơi diễn ra các hoạt động đa dạng từ hội thảo đến trình diễn, phá vỡ ranh giới giữa người sáng tạo và công chúng.
Những trường hợp thành công như F 1963, Làng nghệ thuật Mullae (Hàn Quốc) là minh chứng rõ nét cho các bài học trên, thay vì chỉ là những phòng triển lãm tĩnh, ở đó còn có xưởng làm việc và nơi ở của nghệ sĩ giúp duy trì hoạt động sáng tạo liên tục, biến di sản thành một “thực thể sống” có hồn. Tại F 1963, cách tổ chức không gian xen kẽ, kết hợp giữa thư viện nghệ thuật, xưởng bia thủ công và các không gian lưu trú cho nghệ sĩ đã giúp quá trình sản xuất văn hóa diễn ra công khai, thu hút công chúng tương tác trực tiếp với nghệ sĩ. Điều này giúp không gian tránh được kịch bản bảo tàng hóa khô khan và tạo ra phần hồn cho địa điểm.
Chiến lược tổ chức không gian đa mục đích kết hợp phục vụ cộng đồng địa phương cũng là một bài học kinh nghiệm giá trị. Những bộ phận như quảng trường, vườn hoa, thư viện… của tổ hợp hoàn toàn có thể đảm nhiệm công năng sinh hoạt cộng đồng cho cư dân trong khu vực, vừa đóng góp cho địa phương vừa thu hút khách ghé thăm. Trường hợp thư viện và vườn trong không gian sáng tạo Learning Center của Ngân hàng Thái Lan là một bài học hữu ích. Hai tiện ích này đã trở thành nơi lui tới hàng ngày của cư dân Bangkok.
Giải pháp thẩm mỹ
Ở các không gian sáng tạo tại Châu Á hiện nay, trong cách tạo hình thẩm mỹ cho các không gian sáng tạo chuyển đổi từ nhà máy cũ, tồn tại hai con đường “từ trên xuống” (do cộng đồng nghệ sĩ tự làm) và “từ dưới lên” (do một đơn vị thiết kế tổng thể). Về cơ bản hai con đường đều tiếp cận từ góc độ tái sử dụng thích ứng. Tận dụng tối đa những đặc điểm cấu trúc, hình thức công nghiệp hiện trạng để tạo ra nét hấp dẫn thị giác. Tuy nhiên, hiệu quả thẩm mỹ và bảo tồn di sản lại khác nhau, có cả ưu và nhược điểm trong cả hai cách làm.
Những dự án thiết kế từ dưới lên như Làng nghệ thuật Mullae hay 798 Bắc Kinh tạo ra được sự sống động một cách tự nhiên với vẻ đẹp không hoàn hảo nhưng duyên dáng, vô cùng hấp dẫn. Nhưng ngược lại nếu phát triển không có kiểm soát nó cũng dẫn đến nguy cơ chắp vá về thẩm mỹ và đặc biệt là có thể ảnh hưởng đến việc bảo tồn di sản do những can thiệp tùy hứng nhỏ lẻ của nghệ sĩ không được giám sát đồng bộ, chặt chẽ.

Nguồn:
Đối với hầu hết các dự án khác ở châu Á, cách làm đều là từ trên xuống, cơ quan quản lý hoặc chủ sở hữu giao cho một KTS thiết kế tổng thể. Ưu điểm là sự chỉn chu, đồng bộ về thẩm mỹ, được kiểm soát chặt chẽ về bảo tồn di sản, nhưng dễ rơi vào tình huống đơn điệu một màu, hoặc xây dựng mở rộng quy mô lớn làm lu mờ không khí của di sản. Ví dụ tiêu biểu là Công viên sáng tạo Hanyang 824 ở Vũ Hán, việc xây dựng Bảo tàng Trương Chi Động do Daniel Libeskind thiết kế với chiều cao vượt trội tổng thể, hình thức kiến trúc quá mạnh mẽ lấn át thực thể di sản xung quanh, tạo ra sự đứt gãy về mặt cảm xúc và lịch sử giữa công trình mới và những nhà xưởng cũ còn sót lại.

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Về quản lý vận hành, bài học từ các không gian sáng tạo châu Á cho thấy không có mô hình nào là hoàn hảo. Các mô hình có sự dẫn dắt của nhà nước có khả năng thành công cao hơn do cân đối được các vấn đề, khả năng tồn tại, mục tiêu văn hóa sáng tạo, bảo tồn di sản, phục vụ cộng đồng. Lý tưởng nhất là quản lý vận hành dựa trên hợp tác công tư nhưng nhà nước chỉ nắm giữ tài sản (đất, công trình) và thiết lập cơ chế vận hành, tái đầu tư, và giáo cho các doanh nghiệp kinh doanh văn hoá chuyên nghiệp vận hành có thể là 1 doanh nghiệp hoặc 1 liên danh. Trong bối cảnh hiện nay, ở Việt Nam không nên khuyến khích các mô hình do 1 doanh nghiệp dẫn dắt hoàn toàn – Các dự án thất bại như Hanyang 824 cho thấy rủi ro của việc phụ thuộc vào một tập đoàn bất động sản duy nhất và sự thiếu hụt hệ sinh thái sáng tạo nội tại. Ngược lại, những mô hình thành công như F1963 hay Huashan 1914 đều dựa trên sự cam kết dài hạn của chủ sở hữu hoặc cơ chế hợp tác công – tư chặt chẽ.
Về giải pháp kiến trúc quy hoạch, bài học lớn là cách tiếp cận tổ chức không gian phải hướng tới sự “thẩm thấu” lẫn nhau. Cụ thể, đối với bên ngoài thì xóa bỏ các rào cản vật lý với các khu dân cư xung quanh, thiết kế theo hướng tích hợp các không gian không thu phí như quảng trường, vườn hoa của tổ hợp không gian sáng tạo vào vào mạng lưới hạ tầng xã hội của khu vực. Đối với bên trong thì nên thiết kế theo hướng phối hợp các chức năng khác nhau, xen kẽ các xưởng sáng tạo, khởi nghiệp với các không gian thương mại, ẩm thực, tránh phân khu quá rõ ràng để tăng cường tương tác giữa công chúng với quá trình sản xuất sản phẩm văn hoá, giúp công chúng cảm nhận rõ cái hồn của một không gian văn hóa sáng tạo.
Trong thiết kế cũng cần dung hòa giữa hai cách làm từ dưới lên và từ trên xuống. Thiết kế tổng thể là cần thiết để đảm bảo hài hoà chung và đảm bảo tổ hợp không gian văn hóa sáng tạo đáp ứng được yêu cầu về an toàn, bảo tồn di sản. Tuy nhiên, thiết kế tổng thể cũng cần dành khoảng trống cho cộng đồng sáng tạo, các cơ sở kinh doanh bên trong tự tạo ra những nét đặc trưng của mình.
Với tầm quan trọng của kết nối giao thông công cộng từ thực tiễn phát triển các không gian văn hóa sáng tạo châu Á, bài học rút ra đối với Việt Nam có thể là nên lựa chọn những cơ sở công nghiệp cũ có hệ thống giao thông công cộng tiếp xúc gần để phát triển trước, kết hợp với chủ trương quy hoạch theo mô hình TOD hiện nay ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM.
Tóm lại, một không gian văn hóa sáng tạo thành công cần có mô hình hoạt động phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội, cần có giải pháp thiết kế tốt, khả năng kết nối với các hệ thống không gian và hạ tầng đô thị cũng như có một cộng đồng sáng tạo năng động – Nhưng trên hết, từ các bài học châu Á nêu trên điểm quan trọng hàng đầu, mang tính bao trùm là cần sự tham gia chủ động của các cấp quản lý nhà nước với tâm thế cầu thị, chủ động và kiến tạo. Cầu thị trong việc phát hiện vấn đề, như trường hợp Huashan 1914, hay 798 Bắc Kinh, cơ quan quản lý đã lắng nghe nguyện vọng của nghệ sĩ và giúp di sản thoát khỏi nguy cơ chuyển thành dự án bất động sản. Chủ động trong việc xây dựng không gian sáng tạo thông qua cung cấp cơ sở vật chất, thành lập hoặc giao cho các cơ quan, doanh nghiệp chuyên trách tham gia vào xây dựng, quản lý, vận hành. Kiến tạo là ban hành những khung pháp lý, cơ chế, quy định để các bên cùng tham gia phát triển các không gian văn hóa sáng tạo có lợi ích hài hoà và giữ được động lực lâu dài. Có bệ đỡ như vậy thì hệ thống không gian văn hóa sáng tạo mới có khả năng hình thành lành mạnh và phát triển bền vững, đóng góp vào nền kinh tế sáng tạo, kinh tế tri thức của quốc gia.
TS. KTS Trương Ngọc Lân*
*Trường ĐH Xây dựng Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 01-2026)
Tài liệu tham khảo
1. Pei-Ling Liao (2014)The Adaptation of the Cultural and Creative Industries Clusters Policies Eastern Asian Cities: The Case Studies in Taiwan. Luận án tiến sĩ Đại học Birmingham, Vương quốc Anh;
2. Congcong Yao (2021) Adaptive Reuse of Industrial Heritage with Cultural-creative Industry – A Study of 798 Art District. Kỷ yếu hội thảo: EMEHSS 2021 (International Conference on Economics, Management, Education, Humanities and Social Sciences)
3. Trang web Không gian sáng tạo F1963:
4. Trang web Không gian sáng tạo Huashan 1914
5. Trang web Ngân hàng Thái Lan:
